Nội dung câu hỏi:
“Tôi có thửa đất số 247 tờ bản đồ số 16 xã Phú Đông nay thuộc xã Đại Phước, Đồng Nai. Diện tích 1194 m2, trong đó có 150 m2 thổ cư, 1044 m2 cây lâu năm. Nguồn gốc sdd: công nhận QSDD như giao đất có thu tiền sử dụng đất 150 m2 thổ và công nhận QSDD như giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với 1044 m2 cây lâu năm. Tôi làm hồ sơ xin chuyển thêm 149 m2 từ đất trồng cây lâu năm thành đất thổ cư. Đo đạc bản đồ vào tháng 11/2025. Đến tháng 12/2025 bên cơ quan thuế ra thông báo nộp tiền phí trước bạ và tiền sử dụng đất để lên thổ cư. Hiện nay tôi chưa nộp tiền vì tôi đến cơ quan thuế hỏi tôi có được giảm tiền lên thổ cư theo Nghị quyết 254 hay không? Nếu có thì tính tiền lại cho tôi. Tôi được trả lời là chưa có văn bản hướng dẫn. Khi tôi đến bộ phận 1 cửa hỏi thì cũng nhận được câu trả lời chưa có văn bản hướng dẫn nên họ chưa biết thế nào. Đến nay sắp hết hạn 30 ngày đóng tiền lên thổ cư theo văn bản thông báo của cơ quan thuế. Xin hỏi trường hợp của tôi có được giảm tiền chuyển thổ cư không? Tôi cần làm thủ tục gì?.”
UBND xã Đại Phước có ý kiến trả lời tại Văn bản số 537/UBND-TD ngày 12/02/2026 như sau:
Căn cứ Điểm c Khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành luật đất đai quy định:
“c) Trường hợp đất vườn, ao, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở được xác định khi công nhận quyền sử dụng đất mà chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở; chuyển từ đất có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền đất ở nhưng người sử dụng đất tách ra để chuyển quyền sử dụng đất hoặc do đơn vị đo đạc khi đo vẽ bản đồ địa chính trước ngày 01/7/2014 đã tự đo đạc tách thành các thửa riêng sang đất ở thì tính tiền sử dụng đất theo mức thu bằng: 30% chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở và tiền sử dụng đất tỉnh theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất (sau đây gọi tắt là chênh lệch) đối với diện tích đất chuyển mục đích sử dụng trong hạn mức giao đất ở tại địa phương; 50% chênh lệch đối với diện tích đất vượt hạn mức nhưng không quá 01 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương; 100% chênh lệch đối với diện tích đất vượt hạn mức mà vượt quá 01 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương. Mức thu tiền sử dụng đất nêu trên chỉ được tính một lần cho một hộ gia đình, cá nhân (tính trên 01 thửa đất)”
Căn cứ Điều 12 Nghị định số 50/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026 quy định chi tiết một số Điều của Nghị quyết số 254/2025/QH ngày 11/12/2025 của Quốc Hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật đất đai về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo đó quy định:
“2. Xử lý chuyển tiếp đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thuộc các trường hợp quy định tại Điều 6 Nghị định này từ ngày 01/8/2024 đến trước ngày 01/01/2026 theo quy định tại khoản 10 Điều 4 Nghị quyết số 254/2025/QH15:
a) Trường hợp cơ quan thuế chưa ban hành thông báo nộp tiền sử dụng đất thì cơ quan thuế thực hiện tính tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều 6 Nghị định này.
b) Trường hợp cơ quan thuế đã ban hành thông báo nộp tiền sử dụng đất nhưng hộ gia đình, cá nhân chưa nộp tiền sử dụng đất theo thông báo của cơ quan thuế thì hộ gia đình, cá nhân được đề nghị cơ quan thuế tính lại tiền sử dụng đất phải nộp theo quy định tại Điều 6 Nghị định này; cơ quan thuế tính lại và điều chỉnh Thông báo số tiền sử dụng đất phải nộp theo quy định của pháp luật về quản lý thuế. Hộ gia đình, cá nhân phải nộp khoản tiền chậm nộp tiền sử dụng đất (nếu có) tính trên số tiền tính lại theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
c) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đã nộp một phần tiền sử dụng đất theo thông báo của cơ quan thuế thì được đề nghị cơ quan thuế tính lại tiền sử dụng đất theo quy định tại Nghị định này; cơ quan thuế tính lại tiền sử dụng đất và thông báo cho người sử dụng đất. Việc xử lý đối với số tiền sử dụng đất đã nộp được thực hiện như sau:
Trường hợp số tiền sử dụng đất sau khi tính lại thấp hơn số tiền sử dụng đất phải nộp nhưng cao hơn so với số tiền đã nộp thì người sử dụng đất phải nộp số tiền sử dụng đất còn thiếu so với số tiền sử dụng đất tính lại; đồng thời, người sử dụng đất phải nộp số tiền chậm nộp tính trên số tiền còn thiếu sau khi tính lại từ thời điểm phải nộp tiền theo thông báo thu tiền đến thời điểm nộp đủ số tiền còn thiếu;
Trường hợp số tiền sử dụng đất sau khi tính lại thấp hơn so với số tiền đã nộp thì người sử dụng đất được Nhà nước hoàn trả số tiền chênh lệch bằng cách trừ vào nghĩa vụ về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; trường hợp không phát sinh nghĩa vụ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì trừ vào nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật về quản lý thuế; trường hợp không còn nghĩa vụ tài chính nào khác để trừ thì hoàn trả bằng tiền theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, pháp luật về quản lý thuế hoặc pháp luật khác có liên quan.
d) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đã nộp đủ tiền sử dụng đất theo thông báo của cơ quan thuế thì được đề nghị cơ quan thuế tính lại tiền sử dụng đất theo quy định tại Nghị định này; cơ quan thuế tính lại tiền sử dụng đất và thông báo cho người sử dụng đất. Trường hợp số tiền sử dụng đất sau khi tính lại thấp hơn so với số tiền đã nộp thì người sử dụng đất được Nhà nước hoàn trả số tiền chênh lệch bằng cách trừ vào nghĩa vụ về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; trường hợp không phát sinh nghĩa vụ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì trừ vào nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật về quản lý thuế; trường hợp không còn nghĩa vụ tài chính nào khác để trừ thì hoàn trả bằng tiền theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, pháp luật về quản lý thuế và pháp luật khác có liên quan.
đ) Trình tự, thủ tục tính tiền sử dụng đất hoặc tính lại tiền sử dụng đất theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản này như sau:
Hộ gia đình, cá nhân nộp văn bản thể hiện đề nghị tỉnh hoặc tính lại tiền sử dụng đất theo quy định tại Nghị định này chậm nhất trước ngày 01/01/2027 đến bộ phận một cửa liên thông; bộ phận một cửa liên thông cấp giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả; chuyển văn bản này đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất để thực hiện việc xác định hạn mức giao đất ở của thửa đất được lựa chọn để tính hoặc tính lại tiền sử dụng đất; chuyển thông tin đến cơ quan thuế. Không áp dụng tính tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều này đối với trường hợp người sử dụng đất nộp văn bản đề nghị từ ngày 01/01/2027 trở về sau.
Cơ quan thuế thực hiện việc tính hoặc tính lại tiền sử dụng đất theo quy định tại Nghị định này; ban hành thông báo nộp tiền sử dụng đất hoặc thông báo điều chỉnh thông báo nộp tiền sử dụng đất gửi cho người sử dụng đất; đồng thời gửi thông tin đến Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định.
Căn cứ quy định nêu trên và qua rà soát hồ sơ chuyển mục đích của ông Dương Văn Giùm đối với diện tích 150m2 thuộc thửa đất số 247, tờ bản đồ số 16 xã Phú Đông (nay là xã Đại Phước), ông Dương Văn Giùm đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo thông báo của cơ quan thuế. Do đó, đề nghị ông Dương Văn Giùm liên hệ Trung tâm Phục vụ Hành chính công xã Đại Phước để nộp văn bản thể hiện đề nghị tính hoặc tính lại tiền sử dụng đất theo quy định chậm nhất trước ngày 01/01/2027 để được xem xét, giải quyết giảm tiền sử dụng đất (nếu có) theo đúng quy định pháp luật.