Theo đó, mục tiêu đến năm 2030 tăng tối thiểu 1,5 lần vốn đầu tư R&D từ doanh nghiệp, tổ chức R&D, cơ sở giáo dục so với năm 2025. Đạt tối thiểu 25 nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có sự hợp tác giữa nhà nước, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và tổ chức R&D. Đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng ít nhất 2.500 lao động thuộc 11 nhóm công nghệ chiến lược được ban hành theo Quyết định số 1131/QĐ-TTg ngày 12/6/2025 của Thủ tướng Chính phủ. Có tối thiểu 10 sản phẩm/dịch vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được thương mại hóa thành công và hình thành tối thiểu 5 doanh nghiệp khoa học và công nghệ mới từ kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ..
Một số nhiệm vụ và giải pháp được đề ra để thực hiện:
1. Hoàn thiện quy chế để Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ tỉnh tiến hành tài trợ cho các dự án R&D, trong đó quy định doanh nghiệp phải đóng góp vốn R&D đối ứng hoặc cam kết đặt hàng, tiếp nhận kết quả nghiên cứu. Đơn giản hóa tối đa thủ tục để doanh nghiệp được hưởng ưu đãi khấu trừ chi phí R&D theo quy định. Giảm bớt các yêu cầu chứng minh phức tạp, tập trung vào kết quả đầu ra của hoạt động R&D. Xây dựng chính sách ưu đãi lãi suất, bảo lãnh vay vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) đầu tư mua sắm công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ chuyển đổi số từ các viện, trường. Triển khai hướng dẫn cụ thể thủ tục định giá tài sản trí tuệ hình thành từ việc triển khai nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo điều kiện thuận lợi cho các viên chức, giảng viên dùng tài sản trí tuệ để góp vốn thành lập doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Thực thi nghiêm túc các quy định về việc đảm bảo quyền lợi cho tác giả khi kết quả nghiên cứu được thương mại hóa, tạo động lực mạnh mẽ cho cá nhân. - Xây dựng cơ chế để các cơ sở đào tạo linh hoạt mở các khóa đào tạo ngắn hạn, chuyên sâu về công nghệ theo hợp đồng đặt hàng trực tiếp từ doanh nghiệp. Xây dựng quy chế khuyến khích và hỗ trợ chi phí để các viện, trường mở cửa và cho doanh nghiệp thuê sử dụng các phòng thí nghiệm, thiết bị nghiên cứu để tối đa hóa hiệu suất sử dụng tài sản.
2. Đặt hàng, tài trợ nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, xây dựng phát triển hệ sinh thái 4 Nhà; Nhà nước đặt hàng, tài trợ một phần hoặc toàn bộ kinh phí từ ngân sách nhà nước cho nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thông qua Quỹ phát triển khoa học và công nghệ; quyền sở hữu, thương mại hóa, phân chia lợi nhuận thực hiện theo pháp luật chuyên ngành và quy định tại Nghị định của Chính phủ. Ban hành và công bố danh mục nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thông qua Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ tỉnh và các quỹ R&D của các doanh nghiệp, các tổ chức R&D và các cơ sở giáo dục, làm cơ sở để các chuyên gia, nhà khoa học đăng ký tham gia thực hiện. Tổ chức các hoạt động nhằm xây dựng liên kết bốn nhà giữa Nhà nước – Nhà trường - Doanh nghiệp và Tổ chức R&D. Nhà nước xác định mục tiêu, đặt hàng, hỗ trợ hạ tầng; tổ chức khoa học và công nghệ nghiên cứu, vận hành hạ tầng và đào tạo; doanh nghiệp đầu tư hạ tầng, cấp kinh phí R&D, ứng dụng, thương mại hóa.
3. Vận hành Quỹ phát triển khoa học và công nghệ. Hoàn thiện bộ máy tổ chức và ban hành các quy chế của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ tỉnh. Vận hành Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ nhằm hỗ trợ các hoạt động hỗ trợ, tài trợ cho các nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Ưu tiên cấp vốn mồi cho các dự án mà doanh nghiệp cam kết đóng góp vốn R&D từ 50% trở lên.
- Tổ chức thường niên Hội chợ Công nghệ và Thiết bị (Techmart) để kết nối các dự án tiềm năng với các Quỹ đầu tư ngoài tỉnh và quốc tế. Đào tạo nguồn nhân lực khoa học và công nghệ. Tập trung vào các kỹ năng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, tự động hóa và các lĩnh vực theo đặt hàng của doanh nghiệp từ Quỹ R&D của doanh nghiệp.